Bảo hộ thương hiệu trên 60 quốc gia (SB Law) đại diện sở hữu công nghiệp được cấp giấy chứng nhận theo Quyết định số 417/QĐ-SHTT Cục Sở Hữu Trí Tuệ | Cục Bản Quyền Tác Giả ghi nhận Tổ chức tư vấn dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan. sở hữu trí tuệ
Tin tức
Thương hiệu
Bản quyền tác giả
Kiểu dáng, Sáng chế
Bảo hộ quyền
Mua bán thương hiệu
Tính phí dịch vụ
Quang cáo
Hỗ trợ trực tuyến
Bảo hộ thương hiệu
Một lỗi kỹ thuật của Luật Sở hữu trí tuệ
Tin tức
Một lỗi kỹ thuật của Luật Sở hữu trí tuệ

Gần đây, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) yêu cầu các khách sạn tại Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc.

VCPMC khẳng định cơ sở pháp luật là Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ có thực sự là cơ sở pháp luật để VCPMC thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc?

Cho đến nay, vụ việc vẫn đang trong tình trạng “treo”, bởi theo VCPMC, việc tổ chức này thu tiền sử dụng tác phẩm dựa trên Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), cụ thể là quy định về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng tại điểm b) khoản 1 Điều 20 Luật SHTT. Còn cơ quan quản lý nhà nước cũng khẳng định việc VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền có cơ sở pháp luật, nhưng đó là Điều 33 Luật SHTT.

Việc khẳng định Điều 20 hoặc Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền kéo theo những hệ quả pháp lý quan trọng đối với các bên có liên quan.

Để khẳng định Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật, cần phải chứng minh rằng hành vi sử dụng tác phẩm âm nhạc của khách sạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 33 Luật SHTT.

Khoản 1 Điều  33 Luật SHTT quy định về "Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng" và khoản 2 Điều 33  quy định về "Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại".

Hai quy định trên thể hiện rõ ràng phạm vi của giới hạn tại Điều 33 Luật SHTT,  theo đó Điều 33 Luật SHTT chỉ quy định giới hạn quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình” nhằm mục đích 'phát sóng' hoặc "trong hoạt động kinh doanh, thương mại”.

Tuy nhiên, theo Điều 30 Luật SHTT, nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình” không có độc quyền phát sóng “bản ghi âm, ghi hình” và không có độc quyền sử dụng “bản ghi âm, ghi hình” trong hoạt động “kinh doanh, thương mại”.

Việc đối chiếu các quy định tại Điều 30 Luật SHTT (quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình”) và Điều 33 Luật SHTT (giới hạn một phần quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình”) cho phép khẳng định chắc chắn rằng Điều 33 Luật SHTT không áp dụng đối với bất kỳ một hành vi nào thuộc phạm vi quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình”.

Nói khác đi, Điều 33 Luật SHTT không quy định bất kỳ một trường hợp nào trong “Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”.

Vì Điều 33 Luật SHTT không điều chỉnh bất kỳ một hành vi nào nên việc xác định hành vi sử dụng tác phẩm âm nhạc mà VCMC yêu cầu khách sạn trả tiền là không cần thiết.

Như vậy, Điều 33 Luật SHTT không thể là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, bất kể đối tượng của hành vi sử dụng là gì; ai là người sử dụng; sử dụng dưới hình thức nào, ở đâu, lúc nào, nhằm mục đích gì.


Điều 33 Luật SHTT (các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao)

"1. Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thoả thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thoả thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thoả thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật".

Ông Đỗ Khắc Chiến – Nguyên Phó cục trưởng - Cục bản quyền tác giả - Bộ Văn hóa Thông tin, Trọng tài viên - Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam. theo enternews.vn

» Đăng ký bản quyền tác giả

Mọi chi tiết liên hệ: Đại diện Sở hữu trí tuệ
Điện thoại: 0904340664 - Chat Zalo - Gửi nhu cầu email: baohothuonghieu@sblaw.com.vn
Đăng ký thương hiệu, Nhãn hiệu, Mã số mã vạch, Bản quyền, Kiểu dáng, Sáng chế
Mua bán nhượng quyền thương hiệu, Bảo hộ quyền...
Trang chủ   Liên hệ   Print   Favorites   Gui tin nay Gửi cho bạn bè   Đầu trang
Bài viết cùng mục - Tin bản quyền
» Doanh nghiệp thiếu kỹ năng tra cứu thông tin sáng chế
» Cơ sở pháp luật để giải quyết tranh chấp quyền tác giả sử dụng tác phẩm âm nhạc
» Lượng đơn đăng ký sáng chế quốc tế đạt kỉ lục và bảo hộ nhãn hiệu và kiểu dáng ngày càng lớn
» Trung tâm tác quyền âm nhạc thu hơn 35 tỷ đồng trong 6 tháng
» Sử dụng công cụ WIPO CASE để nâng cao chất lượng tra cứu và thẩm định sáng chế
» Phim Việt khốn đốn vì vừa phát sóng đã bị ăn cắp bản quyền
» Những điều cấm kỵ trong thiết kế logo
» Khóa kéo sáng chế tài tình thay thế khuy
» Nhiều lỗ hổng trong hệ thống quy định pháp luật về bản quyền
» Nên thu hồi văn bản tạm dừng lưu hành ca khúc Con đường xưa em đi
Các tin khác - Tin tức
» SBLAW tuyển dụng chuyên viên nhãn hiệu và bản quyền
» Luật nhãn hiệu có đang bắt kịp Trí tuệ Nhân tạo?
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại EU và Mỹ
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Trung Quốc và Nga
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ
» Tư vấn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Trung Quốc
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ, Anh, Úc và Nhật bản
» Đăng ký nhãn hiệu tại Đông Nam Á, Hàn Quốc, EU, Trung Quốc và Mỹ
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Đông Nam Á và Mỹ
» Đăng ký nhãn hiệu tại Trung Quốc và Singapore
Hình ảnh văn phòng
Video tư vấn bảo hộ quyền
Tin mới đăng
Bằng khen, Giải thưởng uy tín
Đối tác

BẢO HỘ THƯƠNG HIỆU SBLAW

Địa chỉ VP Hà Nội:

SBLAW, tầng 18, Center Buiding, Hapulico complex, Số 85, Vũ Trọng Phụng, Quận Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam.

Địa chỉ VP TP. Hồ Chí Minh:

SBLAW, tầng 8, PDD Building, Số 162 đường Pasteur, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh.

Hotline: 0904340664 - Chat Zalo

Email: baohothuonghieu@sblaw.com.vn 

Website: Baohothuonghieu.com

Chịu trách nhiệm nội dung: Luật sư Nguyễn Thanh Hà - Liên đoàn luật sư Việt Nam.

Vui lòng dẫn Nguồn "Baohothuonghieu.com" khi phát hành thông tin từ website này

 

DMCA.com Protection Status
Đăng ký thương hiệu Đăng ký sáng chế Đăng ký tiêu chuẩn chất lượng Bảo hộ thương hiệu Giải quyết tranh chấp Tư vấn luật doanh nghiệp
đăng ký logo Đăng ký kiểu dáng Đăng ký lưu hành dược phẩm Mua bán thương hiệu Tư vấn pháp luật Thành lập công ty
đăng ký logo độc quyền Mã số mã vạch Đăng ký thực phẩm chức năng Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Tư vấn hợp đồng Tư vấn đầu tư
Đăng ký bản quyền Thủ tục đăng ký mã số mã vạch Dịch vụ chuyển nhượng nhãn hiệu Xử lý vi phạm quyền Đăng ký Sở hữu trí tuệ Đăng ký kinh doanh
Đăng ký nhãn hiệu Đăng ký bảo hộ tên miền Mẫu đơn đăng ký nhãn hiệu Đăng ký bảo hộ thương hiệu Tra cứu thương hiệu Tư vấn đầu tư nước ngoài
Đăng ký nhãn hiệu Quốc tế Dịch vụ tra cứu nhãn hiệu Thủ tục đăng ký nhãn hiệu Nhượng quyền thương mại Cục sở hữu trí tuệ
Trademark registration  ...

 

Công ty SBLAW, Tư Vấn Luật,Thiết kế bởi:Digitalstar.vn
Hotline: 0904340664 (Mr.Hà) – Chat Zalo
baohothuonghieu@sblaw.com.vn
Language:
Một lỗi kỹ thuật của Luật Sở hữu trí tuệ
Tin tức
Một lỗi kỹ thuật của Luật Sở hữu trí tuệ

Gần đây, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) yêu cầu các khách sạn tại Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc.

VCPMC khẳng định cơ sở pháp luật là Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ có thực sự là cơ sở pháp luật để VCPMC thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc?

Cho đến nay, vụ việc vẫn đang trong tình trạng “treo”, bởi theo VCPMC, việc tổ chức này thu tiền sử dụng tác phẩm dựa trên Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), cụ thể là quy định về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng tại điểm b) khoản 1 Điều 20 Luật SHTT. Còn cơ quan quản lý nhà nước cũng khẳng định việc VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền có cơ sở pháp luật, nhưng đó là Điều 33 Luật SHTT.

Việc khẳng định Điều 20 hoặc Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền kéo theo những hệ quả pháp lý quan trọng đối với các bên có liên quan.

Để khẳng định Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật, cần phải chứng minh rằng hành vi sử dụng tác phẩm âm nhạc của khách sạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 33 Luật SHTT.

Khoản 1 Điều  33 Luật SHTT quy định về "Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng" và khoản 2 Điều 33  quy định về "Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại".

Hai quy định trên thể hiện rõ ràng phạm vi của giới hạn tại Điều 33 Luật SHTT,  theo đó Điều 33 Luật SHTT chỉ quy định giới hạn quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình” nhằm mục đích 'phát sóng' hoặc "trong hoạt động kinh doanh, thương mại”.

Tuy nhiên, theo Điều 30 Luật SHTT, nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình” không có độc quyền phát sóng “bản ghi âm, ghi hình” và không có độc quyền sử dụng “bản ghi âm, ghi hình” trong hoạt động “kinh doanh, thương mại”.

Việc đối chiếu các quy định tại Điều 30 Luật SHTT (quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình”) và Điều 33 Luật SHTT (giới hạn một phần quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình”) cho phép khẳng định chắc chắn rằng Điều 33 Luật SHTT không áp dụng đối với bất kỳ một hành vi nào thuộc phạm vi quyền của nhà sản xuất “bản ghi âm, ghi hình”.

Nói khác đi, Điều 33 Luật SHTT không quy định bất kỳ một trường hợp nào trong “Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”.

Vì Điều 33 Luật SHTT không điều chỉnh bất kỳ một hành vi nào nên việc xác định hành vi sử dụng tác phẩm âm nhạc mà VCMC yêu cầu khách sạn trả tiền là không cần thiết.

Như vậy, Điều 33 Luật SHTT không thể là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, bất kể đối tượng của hành vi sử dụng là gì; ai là người sử dụng; sử dụng dưới hình thức nào, ở đâu, lúc nào, nhằm mục đích gì.


Điều 33 Luật SHTT (các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao)

"1. Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thoả thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thoả thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thoả thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật".

Ông Đỗ Khắc Chiến – Nguyên Phó cục trưởng - Cục bản quyền tác giả - Bộ Văn hóa Thông tin, Trọng tài viên - Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam. theo enternews.vn

» Đăng ký bản quyền tác giả

Mọi chi tiết liên hệ: Đại diện Sở hữu trí tuệ
Điện thoại: 0904340664 - Chat Zalo - Gửi nhu cầu email: baohothuonghieu@sblaw.com.vn
Đăng ký thương hiệu, Nhãn hiệu, Mã số mã vạch, Bản quyền, Kiểu dáng, Sáng chế
Mua bán nhượng quyền thương hiệu, Bảo hộ quyền...
Trang chủ   Liên hệ   Print   Favorites   Gui tin nay Gửi cho bạn bè   Đầu trang
Bài viết cùng mục - Tin bản quyền
» Doanh nghiệp thiếu kỹ năng tra cứu thông tin sáng chế
» Cơ sở pháp luật để giải quyết tranh chấp quyền tác giả sử dụng tác phẩm âm nhạc
» Lượng đơn đăng ký sáng chế quốc tế đạt kỉ lục và bảo hộ nhãn hiệu và kiểu dáng ngày càng lớn
» Trung tâm tác quyền âm nhạc thu hơn 35 tỷ đồng trong 6 tháng
» Sử dụng công cụ WIPO CASE để nâng cao chất lượng tra cứu và thẩm định sáng chế
» Phim Việt khốn đốn vì vừa phát sóng đã bị ăn cắp bản quyền
» Những điều cấm kỵ trong thiết kế logo
» Khóa kéo sáng chế tài tình thay thế khuy
» Nhiều lỗ hổng trong hệ thống quy định pháp luật về bản quyền
» Nên thu hồi văn bản tạm dừng lưu hành ca khúc Con đường xưa em đi
Các tin khác - Tin tức
» SBLAW tuyển dụng chuyên viên nhãn hiệu và bản quyền
» Luật nhãn hiệu có đang bắt kịp Trí tuệ Nhân tạo?
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại EU và Mỹ
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Trung Quốc và Nga
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ
» Tư vấn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Trung Quốc
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ, Anh, Úc và Nhật bản
» Đăng ký nhãn hiệu tại Đông Nam Á, Hàn Quốc, EU, Trung Quốc và Mỹ
» Tư vấn đăng ký nhãn hiệu tại Đông Nam Á và Mỹ
» Đăng ký nhãn hiệu tại Trung Quốc và Singapore