Cơ sở pháp luật để giải quyết tranh chấp quyền tác giả sử dụng tác phẩm âm nhạc

Cơ sở pháp luật để giải quyết tranh chấp quyền tác giả sử dụng tác phẩm âm nhạc

Cơ sở pháp luật để giải quyết tranh chấp về quyền tác giả trong sử dụng tác phẩm âm nhạc. Việc thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc tại các khách sạn vẫn đang trong tình trạng ‘treo’, VCPMC phải tạm dừng để hoàn tất các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.

Vậy đâu là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu các khách sạn ở Đà Nẵng trả tiền và giải quyết tranh chấp này ra sao?

Vụ việc: Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) yêu cầu các khách sạn tại Thành phố Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, nhưng yêu cầu đã bị một số khách sạn phản đối. Vụ việc thu hút sự chú ý của dư luận, và được đưa ra trong một phiên chất vấn (13/6/2017) tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV.

Phóng viên báo điện tử Tầm Nhìn (tamnhin.net.vn) trao đổi với ông Đỗ Khắc Chiến, chuyên gia  sở hữu trí tuệ, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) để tìm hiểu thực hư câu chuyện này.

Việc xảy ra lỗi trong quá trình soạn thảo là điều không thể loại trừ hoàn toàn, chỉ có thể hạn chế hoặc xử lý hậu quả, nếu có, thông qua thiết lập và áp dụng các nguyên tắc về quy định và giải thích pháp luật, chẳng hạn như nguyên tắc tại khoản 2 Điều 6 Luật SHTT, tại Điều 1 Công ước Rome (về bảo hộ quyền liên quan, 1961) và Điều 1 WPPT (Hiệp ước WIPO về biểu diễn và ghi âm, 1996).

PV:Thưa ông, hiện đang có ít nhất là hai ý kiến khác nhau về cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu các khách sạn trả tiền sử dụng âm nhạc. Vậy ông có thể cho biết cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc cũng như việc giải quyết tranh chấp trong vấn đề này.

Ông Đỗ Khắc Chiến: Sự khác biệt ý kiến về cơ sở pháp luật đặt ra một vấn đề rộng hơn vấn đề cụ thể của vụ tranh chấp, đó là giải thích và áp dụng một số quy định của pháp luật, cụ thể là quy định tại Điều 20 và Điều 33 Luật SHTT. Về nguyên tắc, cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền có thể là Điều 20 Luật SHTT, Điều 33 Luật SHTT, hoặc một điều khác trong Luật SHTT, thậm chí yêu cầu của VCPMC không có cơ sở pháp luật. 

Việc khẳng định Điều 20 hoặc Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền kéo theo những hệ quả pháp lý rất quan trọng đối với các bên có liên quan. Điều 33 Luật SHTT quy đinh “Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”, cụ thể như sau:

Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân sử dụng quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.”

Trong trường hợp khẳng định Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật thì Điều 20 Luật SHTT không phải là cơ sở pháp luật và do đó: Các khách sạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đình chỉ, thay vì tạm dừng, việc thu tiền của VCPMC; các khách sạn đã trả tiền cho VCPMC có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý việc thu tiền không đúng pháp luật của VCPMC; và VCPMC có thể dựa trên Điều 33 Luật SHTT để yêu cầu khách sạn trả tiền.

PV: Vậy ông có thể nói rõ hơn về Điều 20 Luật SHTT quy định quyền tài sản trong quyền tác giả, cụ thể như thế nào?

Ông Đỗ Khắc Chiến: Quyền tài sản quy định tại khoản 1 bao gồm các quyền: làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Các quyền quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật SHTT do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật SHTT.

Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật SHTT  phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Trong trường hợp khẳng định Điều 20 Luật SHTT là cơ sở pháp luật thì Điều 33 Luật SHTT không phải là cơ sở pháp luật và do đó: VCPMC có quyền yêu cầu khách sạn trả tiền; và VCPMC có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, đối với các khách sạn không thực hiện việc trả tiền.

Trong trường hợp khẳng định Điều 33 Luật SHTT và Điều 20 Luật SHTT không phải là cơ sở pháp luật thì yêu cầu của VCPMC không có cơ sở pháp luật và do đó: VCPMC phải đình chỉ việc thu tiền; các khách sạn đã trả tiền cho VCPMC có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý việc thu tiền trái pháp luật của VCPMC; và VCPMC phải tìm ra quy định khác của Luật SHTT, nếu có, để làm cơ sở pháp luật cho yêu cầu trả tiền.

PV: Cụ thể trong sự việc này thì cách thức để khẳng định về cơ sở pháp luật là gì thưa ông?

Ông Đỗ Khắc Chiến: Để khẳng định bất kỳ một quy định nào trong Điều 20 hoặc Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, cần phải chứng minh rằng hành vi sử dụng của khách sạn thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định đó.

Việc chứng minh phải dựa trên hành vi đã xảy ra và quy định của pháp luật, cụ thể là: xác định hành vi sử dụng tác phẩm âm nhạc mà VCMC yêu cầu khách sạn trả tiền; và xác định hành vi được điều chỉnh theo Điều 20 hoặc Điều 33 Luật SHTT.

Trên thực tế, cho đến nay chưa thấy một tài liệu nào chứng minh cơ sở pháp luật, từ phía người khẳng định cơ sở pháp luật là Điều 20 hoặc Điều 33 Luật SHTT.

Vì vậy, tìm hiểu về Điều 20 và Điều 33 Luật SHTT là việc thiết yếu phải làm, nhằm làm rõ cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền có đúng hay không.

Tuy nhiên, sẽ là hợp lý nếu bắt đầu việc tìm hiểu bằng Điều 33 Luật SHTT vì chỉ gần đây Điều 33 Luật SHTT mới được khẳng định là cơ sở pháp luật; nhưng Điều 20 Luật SHTT đã được áp dụng trong thực tiễn nhiều năm qua mà chưa từng bị phản bác một cách chính thức.

PV: Để hiểu rõ hơn quy định về quyền và giới hạn, ông có thể chỉ rõ về phạm vi điều chỉnh của Điều 33 Luật SHTT?

Ông Đỗ Khắc Chiến: Điều 33 Luật SHTT thuộc Mục 2 «Nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền liên quan» (Chương II, Phần thứ hai Luật SHTT), tức là Điều 33 Luật SHTT quy định về quyền liên quan.

Điều 33 Luật SHTT quy định «Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao», tức là Điều 33 Luật SHTT quy định giới hạn quyền liên quan, cụ thể là giới hạn một phần quyền liên quan, để phân biệt với giới hạn toàn phần quyền liên quan tại Điều 32 Luật SHTT (Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao).

Có thể thấy quy định “Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng” trong khoản 1 và “Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại” trong khoản 2 Điều 33 Luật SHTT thể hiện rõ ràng rằng: đối tượng của hành vi sử dụng là ‘bản ghi âm, ghi hình’; và hành vi sử dụng là ‘phát sóng’ hoặc ‘trong hoạt động kinh doanh, thương mại’.

Như vậy, Điều 33 Luật SHTT chỉ quy định giới hạn quyền của nhà sản xuất ‘bản ghi âm, ghi hình’. Về quyền của nhà sản xuất ‘bản ghi âm, ghi hình’, khoản 1 Điều 30 Luật SHTT quy định nhà sản xuất ‘bản ghi âm, ghi hình’ có độc quyền sao chép ‘bản ghi âm, ghi hình’ và ’nhập khẩu, phân phối’ bản sao ‘bản ghi âm, ghi hình’, tức là theo Điều 30 Luật SHTT thi nhà sản xuất ‘bản ghi âm, ghi hình’ không có độc quyền phát sóng ‘bản ghi âm, ghi hình’ và không có độc quyền sử dụng ‘bản ghi âm, ghi hình’ trong hoạt động ‘kinh doanh, thương mại’.

Kết quả đối chiếu quy định tại Điều 30 Luật SHTT (quyền của nhà sản xuất ‘bản ghi âm, ghi hình’) và Điều 33 Luật SHTT (giới hạn một phần quyền của nhà sản xuất ‘bản ghi âm, ghi hình’) cho phép khẳng định chắc chắn rằng Điều 33 Luật SHTT không áp dụng đối với bất kỳ một hành vi nào thuộc phạm vi quyền của nhà sản xuất ’bản ghi âm, ghi hình’. Vì Điều 33 Luật SHTT không điều chỉnh bất kỳ một hành vi nào nên việc xác định hành vi sử dụng tác phẩm âm nhạc mà VCMC yêu cầu khách sạn trả tiền là không cần thiết.

Tóm lại, Điều 33 Luật SHTT không quy định bất kỳ một giới hạn nào đối với quyền liên quan nói chung, quyền của nhà sản xuất ‘bản ghi âm, ghi hình’ nói riêng. Nói cách khác, Điều 33 Luật SHTT không quy định bất kỳ một trường hợp nào trong “Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”.

Như vậy, Điều 33 Luật SHTT không thể là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, bất kể đối tượng của hành vi sử dụng là gì; ai là người sử dụng; sử dụng dưới hình thức nào, bằng phương tiện gì, ở đâu, lúc nào, nhằm mục đích gì.

PV: Nếu khẳng định Điều 33 Luật SHTT không phải là cơ sở pháp luật thì theo Ông điều nào trong Luật SHTT là cơ sở pháp luật?

Ông Đỗ Khắc Chiến: Thực ra việc diễn giải Điều 33 Luật SHTT ở trên chỉ để rộng đường dư luận vì có ý kiến khẳng định đó là cơ sở pháp luật. Còn cơ sở pháp luật đương nhiên phải là Điều 20 Luật SHTT, vì lý do đơn giản là: mọi hành vi sử dụng tác phẩm đều là hành vi sử dụng quyền tài sản trong quyền tác giả và Điều 20 là điều duy nhất trong Luật SHTT quy định các nội dung cơ bản về quyền tài sản.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Ông.

Việc xảy ra lỗi trong quá trình soạn thảo là điều không thể loại trừ hoàn toàn, chỉ có thể hạn chế hoặc xử lý hậu quả, nếu có, thông qua thiết lập và áp dụng các nguyên tắc về quy định và giải thích pháp luật, chẳng hạn như nguyên tắc tại khoản 2 Điều 6 Luật SHTT, tại Điều 1 Công ước Rome (về bảo hộ quyền liên quan, 1961) và Điều 1 WPPT (Hiệp ước WIPO về biểu diễn và ghi âm, 1996).

theo tamnhin.net.vn

»

SBLAW tư vấn về bảo hộ thương hiệu và các tài sản trí tuệ khác một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả:
Quý khách cần sử dụng dịch vụ bảo hộ tài sản trí tuệ, vui lòng liên hệ trực tiếp đến.
  • Điện thoại – Chat Zalo
  • Email address
Tin tức liên quan

Bảo hộ trước khi mất giống

Thái Lan lo ngại mất giống gạo thơm đặc sản jasmine. Bảo hộ vật nuôi và gạo. Tôn vinh bánh pizza Napoli. Ngày 19-12, Tổng