Quy định pháp luật về giám định về sở hữu trí tuệ

Quy định pháp luật về giám định về sở hữu trí tuệ. Viện Khoa học sở hữu trí tuệ (Viện KH SHTT) có chức năng thực hiện giám định về sở hữu công nghiệp được quy định trong Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện KH SHTT

được ban hành kèm theo Quyết định số 3915/QĐ-BKHCN ngày 16/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Viện KH SHTT có đủ điều kiện để tiến hành hoạt động giám định sở hữu công nghiệp, được xác định theo Giấy chứng nhận Tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp số 01/CN-SHTT do Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 17/6/2009.

Hoạt động giám định về sở hữu công nghiệp căn cứ vào các quy định pháp luật sau đây:

- Điều 201 (Giám định về sở hữu trí tuệ) Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 36/2009/QH12:

“Điều 201. Giám định về sở hữu trí tuệ

1. Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

2. Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam đáp ứng các điều kiện sau đây được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ:

a) Có nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động giám định theo quy định của pháp luật;

b) Có chức năng thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động;

c) Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức ủy quyền có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.

3. Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ:

a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Thường trú tại Việt Nam;

c) Có phẩm chất đạo đức tốt;

d) Có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định, đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực đó từ năm năm trở lên và đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp vụ về giám định.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền trưng cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý.

5. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

6. Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.”

- Chương VI (Giám định sở hữu trí tuệ - các Điều từ 39 đến 53) Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 119/2010/ NĐ-CP ngày 30.12.2010;

- Thông tư số 01/2008/TT-BKHCN ngày 25/2/2008 được sửa đổi theo Thông tư số 04/2009/TT-BKHCN ngày 27/3/2009 hướng dẫn việc cấp, thu hồi thẻ giám định viên sở hữu công nghiệp và giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp./.

 

» Tư vấn xử lý vi phạm nhãn hiệu

» Quy định về hoạt động định giá

SBLAW tư vấn về bảo hộ thương hiệu và các tài sản trí tuệ khác một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả:
Quý khách cần sử dụng dịch vụ bảo hộ tài sản trí tuệ, vui lòng liên hệ trực tiếp đến.
  • Điện thoại - Chat Zalo
  • Email address
Tin tức liên quan