Nâng cao hiệu quả của hoạt động sở hữu trí tuệ để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế

Tác giả: Bảo hộ thương hiệu 608 lượt xem Đăng ngày 17/10/2021

Nâng cao hiệu quả của hoạt động sở hữu trí tuệ để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế

Baohothuonghieu.com trân trọng giới thiệu bài viết “Nâng cao hiệu quả của hoạt động sở hữu trí tuệ ở nước ta để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế” được đăng trên Tạp chí cộng sản ngày 02 tháng 01 năm 2019.

TCCS – Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, sở hữu trí tuệ ngày càng trở thành một trong những công cụ được sử dụng để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Do vậy, cần nâng cao hiệu quả của hoạt động sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay để tranh thủ được thời cơ cũng như giải quyết được những thách thức trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.

Hiện trạng hệ thống sở hữu trí tuệ và hoạt động sở hữu trí tuệ của Việt Nam 

Pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia hiện đều công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức, cá nhân nhằm mục đích khuyến khích hoạt động sáng tạo, phổ biến tiến bộ khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Sở hữu trí tuệ thực sự đóng vai trò động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới – sáng tạo để phát triển tài sản trí tuệ quốc gia cả về số lượng và giá trị, góp phần nâng cao năng lực sáng tạo và tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống sở hữu trí tuệ ở cấp Trung ương gồm ba lĩnh vực chuyên ngành thuộc thẩm quyền quản lý của ba bộ: Bộ Khoa học và Công nghệ (quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp và là cơ quan đầu mối quản lý chung về sở hữu trí tuệ, cơ quan đầu mối là Cục Sở hữu trí tuệ); Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan, cơ quan đầu mối là Cục Bản quyền tác giả); Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng; cơ quan đầu mối là Văn phòng Bảo hộ giống cây trồng thuộc Cục Trồng trọt). Ở địa phương, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (thông qua các cơ quan chuyên môn giúp việc tương ứng là các Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền.

Vào thời điểm Việt Nam nộp đơn gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam vận hành chủ yếu trên cơ sở các văn bản quy phạm dưới luật, gồm Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (năm 1989) và Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả (năm 1994) được xây dựng từ hệ thống văn bản pháp quy (các nghị định của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của các bộ). Để đáp ứng các yêu cầu về “tính đầy đủ” và “tính hiệu quả” của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS của WTO) và các điều ước quốc tế song phương và đa phương khác về sở hữu trí tuệ, năm 2005 Việt Nam đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ, thay đổi toàn bộ cấu trúc của hệ thống các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam, chuyển từ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đơn hành với nhiều quy định còn thiếu tính thống nhất và đồng bộ thành một luật chuyên ngành thống nhất. Luật Sở hữu trí tuệ (được sửa đổi năm 2009) cùng với 17 nghị định quy định chi tiết, 19 thông tư và thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành góp phần đưa các quy định về sở hữu trí tuệ của Việt Nam không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn của các điều ước quốc tế mà còn tiến gần hơn đến hệ thống sở hữu trí tuệ của nhiều nước tiên tiến trên thế giới.

Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của các điều ước quốc tế mang tính cốt lõi của hệ thống sở hữu trí tuệ thế giới, như Công ước Pa-ri (Paris) về Bảo hộ sở hữu công nghiệp; Công ước Bơn (Berne) về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật; Công ước Rôm (Rome) về Bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng; Công ước quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới (Công ước UPOV); Công ước Xtốc-khôm (Stockholm) về Việc thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)…; các điều ước quốc tế về thuận lợi hóa thủ tục đăng ký quốc tế quyền sở hữu trí tuệ, như Hiệp ước Hợp tác sáng chế (Hiệp ước PCT); Thỏa ước và Nghị định thư Ma-đrít (Madrid) về Đăng ký quốc tế nhãn hiệu và hiện đang trong quá trình chuẩn bị gia nhập Hệ thống La Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp.

Dấu mốc đầu tiên của hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Việt Nam là việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác sở hữu trí tuệ giữa các nước ASEAN năm 1995. Sau đó, song song với quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam bắt đầu đàm phán và ký kết các hiệp định hợp tác với Thụy Sĩ (năm 1999); với Hoa Kỳ (năm 2000); với Nhật Bản, Liên bang Nga (năm 2008) và hàng loạt hiệp định hợp tác về khoa học kỹ thuật, trong đó có các điều khoản về sở hữu trí tuệ. Sau quá trình gia nhập WTO, cùng với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, sở hữu trí tuệ cũng dần trở thành một vấn đề ngày càng quan trọng và đang là một phần không thể thiếu trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Theo đó, ở giai đoạn này, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia đàm phán 6 hiệp định thương mại tự do, trong đó 2 hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực (Hiệp định giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á – Âu và Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc; 2 hiệp định thương mại tự do đã kết thúc đàm phán và đang trong quá trình phê chuẩn; 2 hiệp định thương mại tự do đang tiếp tục đàm phán).

Về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, trong giai đoạn 10 năm kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực (2006 – 2016), tổng số các loại đơn sở hữu công nghiệp mà Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) tiếp nhận tăng trung bình mỗi năm khoảng 10% – 15%. Về xác lập quyền đối với giống cây trồng, sau khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tiếp nhận 927 đơn đăng ký bảo hộ quyền đối với giống cây trồng và cấp 432 Bằng bảo hộ đối với giống cây trồng. Trong số đó, đơn xác lập quyền có nguồn gốc Việt Nam chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với đơn có nguồn gốc từ nước ngoài (tính từ năm 2004 đến 2016 tổng số đơn có nguồn gốc Việt Nam gấp khoảng 2,5 lần số đơn có nguồn gốc từ nước ngoài).

Về xác lập quyền tác giả và quyền liên quan, theo quy định của pháp luật, đăng ký các quyền này không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả và quyền liên quan. Tuy nhiên, nhận thức được lợi ích của việc đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan, nhiều tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan đã nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan. Theo đó, trong vòng 10 năm kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành (số liệu tính đến hết năm 2015), Cục Bản quyền tác giả đã thụ lý và cấp 43.450 Giấy chứng nhận đăng ký, trong đó có 43.321 Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả; 129 Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan. Số lượng Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan tăng hằng năm khoảng 6%.

Về hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù quyền sở hữu trí tuệ về bản chất là quyền dân sự nhưng thời gian qua, hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự ở nước ta còn hạn chế. Theo số liệu thống kê của Tòa án Nhân dân tối cao, từ ngày 1-7-2006 đến 30-9-2016, các tòa án đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 182 vụ án dân sự liên quan đến các tranh chấp về sở hữu trí tuệ (trong đó có 158 vụ tranh chấp về quyền tác giả, 10 vụ tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp), đã giải quyết 174 vụ; giải quyết 200/235 vụ tranh chấp kinh doanh thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Với những ưu thế về thời gian, thủ tục và chi phí, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính hiện vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trong giai đoạn 2012 – 2015, thanh tra ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính đối với 386 tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, phạt tiền đối với 384 trường hợp với tổng số tiền phạt trên 9 tỷ đồng. Thanh tra ngành khoa học và công nghệ đã xử lý 473 vụ, việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, trong đó phạt cảnh cáo: 66 vụ, việc, phạt tiền: 264 vụ, việc với số tiền xử phạt gần 6 tỷ đồng. Lực lượng quản lý thị trường (Bộ Công Thương) đã kiểm tra và xử lý đối với 22.441 vụ, việc buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đã xử phạt vi phạm hành chính với số tiền gần 53 tỷ đồng đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm. Biện pháp hình sự được áp dụng đối với hành vi cố ý giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và sao chép lậu quyền tác giả, quyền liên quan ở quy mô thương mại, hoặc đạt tới các ngưỡng hình sự về trị giá hàng giả mạo, hàng sao chép lậu, thu lợi bất chính hoặc thiệt hại.

Viện Khoa học sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (hiện nay là tổ chức giám định sở hữu công nghiệp duy nhất) thường xuyên cung cấp ý kiến giám định cho các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như các doanh nghiệp và cá nhân. Từ tháng 9-2009 đến năm 2016, đã có 3.829 vụ, việc giám định được thực hiện, trong đó 416 vụ theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền mà chủ yếu là các cơ quan bảo vệ quyền (383 yêu cầu, trong đó 57,7% từ cơ quan quản lý thị trường, 29% từ cơ quan công an, số còn lại từ các cơ quan khác, như thanh tra khoa học và công nghệ, hải quan, tòa án nhân dân).

Bên cạnh đó, nước ta cũng có hàng loạt các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy sáng tạo, chuyển giao và phổ biến tài sản trí tuệ, trong đó có nhiều chính sách được luật hóa cũng như các chương trình hỗ trợ đã được triển khai, bao gồm chính sách về trao quyền (trao quyền tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp khoa học công nghệ; trao quyền đăng ký sáng chế, quản lý, khai thác sáng chế cho tổ chức chủ trì dự án nghiên cứu); chính sách, cơ chế phân chia quyền, lợi ích trong hợp tác nghiên cứu công – tư; chính sách khuyến khích khai thác sáng chế tạo ra từ nguồn kinh phí của Nhà nước; chính sách hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ tại doanh nghiệp thông qua Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ… Riêng Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ trong giai đoạn 2011 – 2015 đã hỗ trợ thực hiện 213 dự án, giai đoạn 2016 – 2020 đã và đang triển khai hỗ trợ 23 dự án.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sở hữu trí tuệ ở nước ta tồn tại không ít hạn chế. Về mặt cơ cấu tổ chức chung của hệ thống sở hữu trí tuệ, mô hình ba cơ quan phụ trách ba lĩnh vực khác nhau về quyền sở hữu trí tuệ hoạt động quản lý không tập trung, liên kết rời rạc, không có tính hệ thống, cơ chế phối hợp liên ngành còn yếu, không chặt chẽ. Đến nay, hệ thống văn bản pháp luật vẫn tương đối cồng kềnh và phức tạp, gồm nhiều tầng nấc với các văn bản hướng dẫn thi hành khác nhau; tính đồng bộ và thống nhất trong quy định giữa các văn bản pháp luật chưa cao; một số quy định chưa chi tiết, rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu và thi hành khác nhau; một số quy định còn thiếu tính khả thi, không thực sự phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thời gian xử lý đơn kéo dài, chưa bảo đảm đúng thời hạn luật định. Quá trình xử lý đơn chưa thật sự công khai, minh bạch khiến cho người nộp đơn và công chúng tiếp cận thông tin chưa được dễ dàng. Về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hiện có nhiều cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính, không có đầu mối chính, mỗi cơ quan phụ trách một lĩnh vực (chuyên ngành) hoặc một phạm vi (trên thị trường, tại nơi sản xuất), phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan còn có sự trùng lặp, chưa có sự phối hợp chặt chẽ; hoạt động cập nhật, trao đổi thông tin giữa các bộ, ngành, địa phương chưa kịp thời dẫn đến sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa phát huy được hiệu quả. Trong khi đó, hệ thống tòa án chưa đủ nhân lực được đào tạo và có kinh nghiệm để giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vụ, việc phức tạp về sở hữu trí tuệ. Cơ chế giải quyết tranh chấp qua trung gian hòa giải, trọng tài chưa được phát huy.

Nhận thức của người dân, các tổ chức, doanh nghiệp về bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa cao, chưa có ý thức chủ động tự bảo vệ quyền của mình cũng như tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người khác; chủ thể quyền và các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp chưa vượt qua được tâm lý ngại đụng chạm đến tòa và vẫn ưu tiên lựa chọn biện pháp hành chính để yêu cầu xử lý xâm phạm quyền…

 

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sở hữu trí tuệ ở Việt Nam


Để các hoạt động sở hữu trí tuệ của Việt Nam phát triển đúng hướng, đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội nước ta, cần xác định rõ quan điểm: tài sản trí tuệ của Việt Nam cũng như của nhân loại phải được sử dụng làm đòn bẩy thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh; nâng cao về chất và bảo đảm hiệu quả vượt trội của hoạt động sở hữu trí tuệ là yêu cầu xuyên suốt và là ưu tiên hàng đầu đối với mục tiêu phát triển hệ thống sở hữu trí tuệ Việt Nam; hệ thống sở hữu trí tuệ phải phát triển dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trước tiên là in-tơ-nét kết nối vạn vật và trí tuệ nhân tạo; nguồn nhân lực chất lượng cao về sở hữu trí tuệ được hình thành là yếu tố then chốt để bảo đảm sự thành công của các hoạt động sở hữu trí tuệ; hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam có tính mở và động, tạo sự thích ứng cho hệ thống theo sự vận động và phát triển của nền kinh tế gắn liền với việc tích cực và chủ động hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Trên cơ sở quan điểm đó, 5 nhóm nhiệm vụ phát triển hoạt động sở hữu trí tuệ giai đoạn 2019 – 2030 cần được thực hiện bao gồm: chính sách và pháp luật sở hữu trí tuệ; quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo; hỗ trợ, bổ trợ hoạt động sở hữu trí tuệ với các giải pháp cụ thể sau:

Một là, đẩy mạnh đổi mới các hoạt động thông tin và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về sở hữu trí tuệ – một hoạt động quan trọng khuyến khích hoạt động sáng tạo, tạo ra các tài sản trí tuệ có giá trị, khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, cần từng bước đưa môn học sở hữu trí tuệ và chuyên ngành sở hữu trí tuệ vào chương trình đào tạo đại học và đưa kiến thức về sở hữu trí tuệ vào chương trình giáo dục phổ thông.

Hai là, hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác, chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí tuệ, hoàn thiện pháp luật về giao dịch tài sản trí tuệ, cơ chế phân chia lợi ích giữa các nhóm chủ thể liên quan đối với kết quả sáng tạo; hoàn thiện chính sách cân bằng lợi ích nhằm xử lý hợp lý và thỏa đáng mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến sở hữu trí tuệ như chủ sở hữu sáng chế và cộng đồng, giữa chủ sở hữu quyền đối với giống cây, nhà sản xuất, kinh doanh và nông dân…

Ba là, tăng cường đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư cho phát triển hoạt động sở hữu trí tuệ, thúc đẩy đầu tư hiện đại hóa nguồn lực công nghệ phục vụ xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; lập Quỹ hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ quốc gia để đầu tư cho hoạt động thúc đẩy hoạt động sáng tạo, hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tài sản trí tuệ.

Bốn là, tinh giản đầu mối và chuyên môn hóa hệ thống về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; tiếp tục hoàn thiện các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, nhất là các quy phạm thực thi; chuyển dần việc xử lý các tranh chấp về sở hữu trí tuệ sang các biện pháp dân sự; chấn chỉnh lại toàn bộ các quy phạm về chế tài bảo đảm thực thi theo hướng lấy trật tự dân sự làm biện pháp chủ yếu (còn chế tài hành chính chỉ được áp dụng như một biện pháp bổ sung cho chế tài dân sự khi mà sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vượt quá mức dân sự).

Năm là, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Phối hợp hoạt động hiệu quả giữa các cơ quan quản lý của Nhà nước và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan trong những công việc nhằm hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ, là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ thành quả sáng tạo và có tính khả thi cao, khuyến khích sự sáng tạo. Tăng cường sử dụng hiệu quả các công cụ theo dõi, quản trị sở hữu trí tuệ, tăng cường sử dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin, trong hoạt động nghiệp vụ sở hữu trí tuệ.

Sáu là, mở rộng hoạt động hỗ trợ, bổ trợ liên quan đến thúc đẩy và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, như hoạt động sản xuất, kinh doanh; xây dựng và phát triển mô hình liên kết giữa trường đại học/viện nghiên cứu với doanh nghiệp; vận hành mạng lưới trung tâm sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tại các trường đại học, viện nghiên cứu, kết nối với các trung tâm hỗ trợ về sở hữu trí tuệ…; hỗ trợ hoạt động quản lý và tư pháp về sở hữu trí tuệ, hình thành các tổ chức sự nghiệp ngoài công lập cung cấp các dịch vụ về sở hữu trí tuệ, như thông tin sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ…

Bảy là, nâng cao trình độ nguồn nhân lực sở hữu trí tuệ thông qua đổi mới và đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chuyên nghiệp về sở hữu trí tuệ, hoàn thiện các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn và điều kiện tuyển dụng cho các vị trí công tác trực tiếp xử lý‎‎ nghiệp vụ trong các cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ. Cần có chương trình huấn luyện cán bộ đầu mối về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại các cơ quan thực thi ở Trung ương và địa phương; đề ra những nội dung cụ thể thiết thực trong các lĩnh vực quản lý nhà nước để tăng cường sự gắn kết giữa các cán bộ đầu mối. Tổ chức định kỳ chương trình bồi dưỡng kiến thức về sở hữu trí tuệ cho các cán bộ đầu mối theo hướng chuyên sâu từng bước.

Tám là, tăng cường, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mở rộng và phát triển về chiều sâu quan hệ hợp tác, hỗ trợ với các đối tác lớn về sở hữu trí tuệ, bao gồm cả góc độ song phương và đa phương trong việc thực thi các dự án về nâng cao năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ với mục đích đào tạo và nâng cao năng lực nguồn nhân lực về thực thi quyền, tăng cường hệ thống thu thập và cung cấp thông tin giữa cơ quan quản lý và cơ quan thực thi quyền và tuyên truyền nâng cao nhận thức của công chúng về tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ kiến thức với các nước trên thế giới về thương mại hóa tài sản trí tuệ. Tham gia chủ động và tích cực hơn vào các diễn đàn quốc tế để đàm phán xây dựng các định chế sở hữu trí tuệ quốc tế và ký kết các hiệp định song phương có nội dung về sở hữu trí tuệ./.

Nguồn: Tạp chí cộng sản

Liên kết nguồn tin: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/53690/Nang-cao-hieu-qua-cua-hoat-dong-so-huu-tri-tue-o.aspx

    Gặp Luật Sư Sở Hữu Trí Tuệ Để Được Tư Vấn

    Bảo hộ Thương hiệu - Sáng chế Kiểu dáng - Nhượng quyền - Xử lý vi phạm

    Bài viết cùng chủ đề:

    Luật sư Thanh Hà tham dự Hội nghị quốc tế về bảo vệ bản quyền trên không gian mạng tại Tokyo, Nhật Bản
    64 lượt xem 22/10/2026

    Luật sư Thanh Hà tham dự Hội nghị quốc tế về bảo vệ bản quyền trên không gian mạng tại Tokyo, Nhật Bản Nội dung: Mới đây, Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật SBLAW đã tham dự Hội nghị quốc tế về bảo vệ bản quyền và chống vi phạm...

    Tăng tốc dựng “bản đồ số” nhà đất Hà Nội: Thách thức liên thông dữ liệu dưới góc nhìn Luật sư Nguyễn Thanh Hà (SBLAW)
    146 lượt xem 25/09/2026

    Việc Hà Nội chuẩn hóa hơn 4,15 triệu thửa đất cùng hàng nghìn giao dịch bất động sản được cập nhật trên hệ thống thông tin quốc gia đang đặt nền móng quan trọng cho việc minh bạch hóa thị trường. Tuy nhiên, để “bản đồ số” thực sự phát huy vai trò thanh lọc...

    LÀM SAO ĐỂ DOANH NGHIỆP VIỆT TẬN DỤNG TỐI ĐA ƯU ĐÃI THUẾ QUAN 90% VÀ MỞ RỘNG ĐẦU TƯ THEO HỆ THỐNG RCEP?
    138 lượt xem 23/09/2026

    Hiệp định RCEP tạo ra khu thương mại tự do lớn nhất thế giới (chiếm 30% GDP toàn cầu) với cam kết xóa bỏ thuế quan lên tới 90% cùng cơ chế mở cửa thị trường dịch vụ & đầu tư chưa từng có! Doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để tối ưu...

    CẢNH BÁO: NHÃN HIỆU CÓ THỂ BỊ CHẤM DỨT HIỆU LỰC NẾU KHÔNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG 05 NĂM LIÊN TỤC
    465 lượt xem 06/08/2026

               Nhiều doanh nghiệp cho rằng sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, quyền đối với thương hiệu đã được bảo đảm lâu dài và không còn phải quan tâm đến các vấn đề pháp lý liên quan.             Tuy nhiên, đây là một quan niệm chưa...

    Tự Đăng Ký Nhãn Hiệu: “Tiết Kiệm” Chi Phí Dịch Vụ Hay Mất Trắng
    459 lượt xem 06/08/2026

    Nhiều chủ doanh nghiệp và nhà sáng lập chọn giải pháp tự nộp đơn đăng ký nhãn hiệu để tiết kiệm chi phí dịch vụ ban đầu. Tuy nhiên, theo thống kê từ Cục Sở hữu trí tuệ, tỷ lệ đơn tự nộp bị sửa đổi, bổ sung hoặc từ chối chính thức lên tới...

    NHẬN THÔNG BÁO DỰ ĐỊNH TỪ CHỐI ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU – VẪN CÒN CƠ HỘI BẢO VỆ THƯƠNG HIỆU
    368 lượt xem 06/08/2026

                Nhiều chủ đơn khi nhận Thông báo dự định từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu thường cho rằng hồ sơ đã không còn khả năng được bảo hộ và quyết định từ bỏ đơn đăng ký.             Tuy nhiên, Thông báo dự định từ chối không...

    SB Law đồng hành cùng mục tiêu tôn trọng và bảo vệ bản quyền trên nền tảng số
    227 lượt xem 30/07/2026

    Nhằm hướng tới môi trường số minh bạch và tôn trọng sở hữu trí tuệ, báo điện tử VOV1 vừa qua đã có bài viết phân tích sâu sắc về công tác xử lý vi phạm bản quyền nội dung trên nền tảng số. Cùng xem những chia sẻ và góc nhìn chuyên môn từ...

    LUẬT SƯ NGUYỄN THANH HÀ CHIA SẺ TRÊN TẠP CHÍ NGƯỜI ĐƯA TIN VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH SỐ
    263 lượt xem 27/07/2026

    https://www.nguoiduatin.vn/ngan-chan-hang-gia-hang-nhai-tren-khong-gian-mang-bai-2-bit-lo-hong-quan-ly-204260721015606237.htm.   HotlineEmailTwitterYoutubeLinkedInFacebookZalo

    Quản lý hoạt động kinh doanh trên môi trường số
    251 lượt xem 27/07/2026

      Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLAW, đã có buổi trả lời phỏng vấn phóng viên Thanh Loan (Tạp chí Người Đưa Tin) về chủ đề “”. SBLAW trân trọng giới thiệu đến quý độc giả nội dung chi tiết của bài phỏng vấn.   Câu 1: Từ ngày 1/7/2026, Luật...

    Sự Khác Nhau Giữa Sáng Chế Và Giải Pháp Hữu Ích: Khi Nào Nên Chọn Để Tiết Kiệm Chi Phí?
    326 lượt xem 08/07/2026

    Rất nhiều cá nhân và doanh nghiệp khi bắt tay vào bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thường nhầm lẫn giữa khái niệm “Sáng chế” và “Giải pháp hữu ích”. Dù đều là hình thức bảo hộ độc quyền cho một giải pháp kỹ thuật, nhưng chúng có sự khác biệt rất lớn về...

    Đăng ký bản quyền khi tác giả là người nước ngoài
    295 lượt xem 07/07/2026

    Câu hỏi: Tác giả của bản thiết kế/phần mềm mà công ty tôi sở hữu là người nước ngoài. Vậy công ty tôi có thể đăng ký bản quyền tác giả tại Việt Nam được không? Trả lời: CÓ. Tuy nhiên, luật cho phép là một chuyện, làm đúng thủ tục để Cục Bản quyền...

    Đăng ký bản quyền cho tác phẩm tạo bằng AI
    337 lượt xem 07/07/2026

    Câu hỏi: Tôi dùng ChatGPT để viết sách, dùng Midjourney để vẽ tranh. Vậy tôi có thể mang tác phẩm được tạo ra bằng AI đi đăng ký bản quyền được không? Trả lời: ĐƯỢC! Nhưng với những điều kiện cực kỳ khắt khe. Pháp luật luôn đề cao sự sáng tạo của con người;...

    Ai là chủ sở hữu bản quyền khi thuê thiết kế?
    323 lượt xem 07/07/2026

    Câu hỏi: Tôi bỏ tiền ra thuê nhân viên hoặc freelancer vẽ logo, làm website cho công ty. Vậy nghiễm nhiên toàn bộ bản quyền có phải là của tôi không? Trả lời: Không hẳn! Bạn cần phân biệt rõ hai loại quyền hoàn toàn tách biệt trong một tác phẩm: Quyền nhân thân: Dù...

    Thay đổi địa chỉ trên giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Hồ sơ, quy trình, thời gian, chi phí và báo giá dịch vụ trọn gói (2026)
    550 lượt xem 01/07/2026

    Khi doanh nghiệp chuyển trụ sở, đổi tên đường, hoặc bị ảnh hưởng bởi việc sáp nhập đơn vị hành chính, địa chỉ ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ không còn khớp với Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hiện tại. Đây là lúc chủ sở hữu nhãn hiệu cần...

    Đăng Ký Bảo Hộ Thương Hiệu Nhà Hàng: Hồ Sơ, Quy Trình, Chi Phí Và Báo Giá Mới Nhất (2026)
    356 lượt xem 01/07/2026

    Mở một nhà hàng không chỉ là chuyện chọn món, chọn địa điểm và set-up không gian – đặt tên cho nhà hàng và bảo vệ cái tên đó cũng quan trọng không kém. Rất nhiều chủ quán chỉ nghĩ đến việc đăng ký bảo hộ thương hiệu khi quán đã đông khách và bắt...

    Từ 01/7/2026: Quán Cà Phê, Nhà Hàng Mở Nhạc Phải Trả Phí Bản Quyền – Hướng Dẫn Chi Tiết Từ SB Law
    507 lượt xem 01/07/2026

    Kể từ ngày 01/7/2026, các quán cà phê, nhà hàng, quán ăn, khách sạn và nhiều mô hình kinh doanh F&B khác sử dụng âm nhạc để phục vụ khách hàng tiếp tục phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả phí bản quyền âm nhạc theo quy định pháp luật hiện hành. Đây không phải...

    0904.340.664