Gần đây, Cục Sở hữu Trí tuệ Quốc gia Trung Quốc (CNIPA) đã ban hành quyết định về việc sửa đổi HƯỚNG DẪN THẨM ĐỊNH SÁNG CHẾ (Lệnh số 84 của CNIPA). HƯỚNG DẪN THẨM ĐỊNH SÁNG CHẾ mới được sửa đổi sẽ có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2026. Các nội dung sửa đổi tập trung vào việc hoàn thiện các tiêu chuẩn thẩm định sáng chế và tối ưu hóa các quy tắc thẩm định đối với các lĩnh vực mới và các mô hình kinh doanh mới, bao gồm các khía cạnh như thông tin định danh của tác giả sáng chế, thẩm tra đạo đức đối với trí tuệ nhân tạo, sự bộc lộ và đánh giá trình độ sáng tạo đối với các sáng chế liên quan đến thuật toán và dữ liệu, thẩm định sáng chế đối với luồng bit mã hóa video truyền thông trực tuyến, tiêu chí đánh giá về trình độ sáng tạo, phạm vi bảo hộ sáng chế của giống cây trồng và giống sinh vật nuôi cấy, điều chỉnh hệ thống đối với các đơn nộp trong cùng một ngày, và các tối ưu hóa mang tính hệ thống như thủ tục hủy bỏ hiệu lực và quy định hoàn phí. Dưới đây là bảng so sánh một phần các nội dung sửa đổi:
| HƯỚNG DẪN THẨM ĐỊNH SÁNG CHẾ
(Lệnh số 78 của CNIPA) |
HƯỚNG DẪN THẨM ĐỊNH SÁNG CHẾ
(Được sửa đổi theo Lệnh số 84 của CNIPA) |
| Phần I, Chương 1
4.1.2 Tác giả sáng chế
Theo quy định tại Điều 14, tác giả sáng chế là người đã đóng góp sáng tạo vào các đặc điểm kỹ thuật cơ bản của một sáng chế-sáng tạo. Thẩm định viên không xem xét liệu tác giả sáng chế được điền tên trong tờ khai có đáp ứng các yêu cầu của quy định nêu trên trong các thủ tục thẩm định tại Cục Sáng chế hay không. Tác giả sáng chế phải là cá nhân, và tên của thực thể, tổ chức, hoặc trí tuệ nhân tạo không được điền vào tờ khai. Ví dụ, không được điền là “nhóm dự án xx” hoặc “Trí tuệ nhân tạo xx”, v.v… |
Phần I, Chương 1
4.1.2 Tác giả sáng chế
Theo quy định tại Điều 14, tác giả sáng chế là người đã đóng góp sáng tạo vào các đặc điểm kỹ thuật cơ bản của một sáng chế-sáng tạo.Không được phép điền tên tác giả sáng chế giả mạo. Thẩm định viên thông thường không xem xét liệu tác giả sáng chế được điền tên trong tờ khai có đáp ứng các yêu cầu của quy định nêu trên trong các thủ tục thẩm định sáng chế hay không, trừ khi có bằng chứng chỉ ra rằng tác giả sáng chế được điền tên trong tờ khai không đáp ứng quy định nêu trên. Tác giả sáng chế phải là cá nhân (tức là, thể nhân). Thông tin định danh của tất cả các tác giả sáng chế phải được điền vào tờ khai, và thông tin phải chính xác. Tên của thực thể, tổ chức, hoặc trí tuệ nhân tạo không được điền vào tờ khai. Ví dụ, không được điền là “nhóm dự án xx” hoặc “Trí tuệ nhân tạo xx”, v.v.
|
| Phần II, chương 1
4.4 Động vật và các giống thực vật
Động vật và thực vật là các sinh vật sống. Theo quy định tại Điều 25.1(4), không cấp quyền sáng chế cho giống động vật và thực vật. Động vật được đề cập trong Luật Sáng chế không bao gồm con người, và đề cập đến dạng sống không thể tự tổng hợp cacbohydrat và protein mà chỉ duy trì sự sống bằng cách hấp thụ cacbohydrat và protein tự nhiên. Thực vật được đề cập trong Luật Sáng chế đề cập đến dạng sống duy trì sự sống bằng cách tổng hợp cacbohydrat và protein từ các hợp chất vô cơ, như nước, cacbon điôxit, và muối vô cơ, thông qua quá trình quang hợp, và thường bất động. Các giống động vật và thực vật có thể được bảo hộ theo các luật và quy định khác ngoài Luật Sáng chế. Ví dụ, các giống cây trồng mới có thể được cấp bảo hộ theo Điều lệ Bảo hộ Giống cây trồng mới. … |
Phần II, Chương 1
4.4 Động vật và các giống thực vật
Động vật và thực vật là các sinh vật sống. Theo quy định tại Điều 25.1(4), không cấp quyền sáng chế cho giống động vật và thực vật. Động vật được đề cập trong Luật Sáng chế không bao gồm con người, và đề cập đến dạng sống không thể tự tổng hợp cacbohydrat và protein mà chỉ duy trì sự sống bằng cách hấp thụ cacbohydrat và protein tự nhiên. Giống thực vật được đề cập trong Luật Sáng chế đề cập đến một quần thể thực vật được lai tạo nhân tạo hoặc được phát hiện và cải thiện. Nó có các đặc điểm hình thái và sinh học nhất quán cũng như các tính trạng di truyền tương đối ổn định. Dạng sống duy trì sự sống bằng cách tổng hợp cacbohydrat và protein từ các hợp chất vô cơ, như nước, cacbon điôxit, và muối vô cơ, thông qua quá trình quang hợp, và thường bất động. Các giống động vật và thực vật có thể được bảo hộ theo các luật và quy định khác ngoài Luật Sáng chế. Ví dụ, các giống cây trồng mới có thể được cấp bảo hộ theo Điều lệ Bảo hộ Giống cây trồng mới. … |
| Phần II, Chương 3
6.2.2 Xử lý quy định Một đơn và Một bằng sáng chế … Tuy nhiên, trường hợp người nộp đơn nộp cùng ngày (tức là ngày nộp đơn) các đơn đăng ký cho cả giải pháp hữu ích và sáng chế liên quan đến cùng một sáng chế-sáng tạo, nếu bằng độc quyền giải pháp hữu ích đã được cấp và chưa chấm dứt hiệu lực, và người nộp đơn đã tuyên bố về sự việc này tương ứng tại thời điểm nộp các đơn đó, thì việc bảo hộ trùng có thể tránh được bằng cách sửa đổi đơn đăng ký sáng chế, hoặc thay vào đó bằng cách từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Do đó, trong quá trình thẩm định đơn đăng ký sáng chế nêu trên, nếu đơn đăng ký sáng chế đã đáp ứng tất cả các điều kiện bảo hộ khác, người nộp đơn sẽ được thông báo để đưa ra lựa chọn hoặc thực hiện sửa đổi. Trong trường hợp người nộp đơn lựa chọn từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích đã được cấp, người đó phải nộp một tuyên bố bằng văn bản về việc từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích tại thời điểm trả lời Thông báo Thẩm định (Office Action). Trong trường hợp này, thẩm định viên sẽ ban hành Thông báo Cấp Bằng độc quyền đối với đơn đăng ký sáng chế đã đáp ứng đủ điều kiện bảo hộ nhưng chưa được cấp bằng, và chuyển tuyên bố bằng văn bản về việc từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích nêu trên tới các bộ phận thẩm định liên quan để Cục Sáng chế thực hiện đăng bạ và công bố. Trong nội dung công bố, cần chỉ rõ rằng quyền đối với giải pháp hữu ích nêu trên sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ ngày công bố cấp bằng độc quyền sáng chế.
|
Phần II, Chương 3
6.2.2 Xử lý quy định Một đơn và Một bằng sáng chế … Tuy nhiên, Trường hợp người nộp đơn nộp cùng ngày (tức là ngày nộp đơn) các đơn đăng ký cho cả bằng độc quyền giải pháp hữu ích và bằng độc quyền sáng chế liên quan đến cùng một sáng chế-sáng tạo giống nhau, theo quy định tại Điều 47, người nộp đơn phải tuyên bố tương ứng khi nộp đơn rằng một đơn đăng ký sáng chế khác cho cùng sáng chế-sáng tạo đó đã được nộp; Trường hợp không có tuyên bố như vậy, vấn đề sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 9.1, theo đó đối với bất kỳ sáng chế-sáng tạo nào giống nhau, chỉ được cấp một quyền sáng chế; Trường hợp có tuyên bố như vậy, và qua thẩm định thấy rằng không có lý do để từ chối đơn đăng ký sáng chế, người nộp đơn sẽ được thông báo để tuyên bố từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích trong thời hạn quy định. Trường hợp người nộp đơn tuyên bố từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích, quyết định cấp bằng độc quyền sáng chế sẽ được đưa ra, và khi công bố cấp bằng độc quyền sáng chế, tuyên bố về việc người nộp đơn đã từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích cũng sẽ được công bố. Trường hợp người nộp đơn từ chối từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích, đơn đăng ký sáng chế sẽ bị bác bỏ. Trường hợp người nộp đơn không phản hồi trong thời hạn, đơn đăng ký sáng chế được coi là đã rút. Nếu bằng độc quyền giải pháp hữu ích đã được cấp và chưa chấm dứt hiệu lực, và người nộp đơn đã tuyên bố sự việc này tương ứng khi nộp các đơn, thì việc bảo hộ trùng có thể tránh được bằng cách sửa đổi đơn đăng ký sáng chế, hoặc thay vào đó bằng cách từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Do đó, trong quá trình thẩm định đơn đăng ký sáng chế nêu trên, nếu đơn đăng ký sáng chế đã đáp ứng tất cả các điều kiện bảo hộ khác, người nộp đơn sẽ được thông báo để đưa ra lựa chọn hoặc thực hiện sửa đổi. Trường hợp người nộp đơn lựa chọn từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích đã được cấp, người đó phải nộp một tuyên bố bằng văn bản về việc từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích tại thời điểm trả lời Thông báo Thẩm định. Trong trường hợp này, thẩm định viên sẽ ban hành Thông báo Cấp Bằng độc quyền đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn mà đã đáp ứng đủ điều kiện bảo hộ nhưng chưa được cấp bằng, và chuyển tuyên bố bằng văn bản về việc từ bỏ bằng độc quyền giải pháp hữu ích nêu trên tới các bộ phận thẩm định liên quan để Cục Sáng chế thực hiện đăng bạ và công bố. Trong nội dung công bố, cần chỉ rõ rằng quyền đối với giải pháp hữu ích nêu trên chấm dứt hiệu lực kể từ ngày công bố cấp bằng độc quyền sáng chế.
|
| Phần II Chương 4
6.4 Thẩm định Sáng chế được yêu cầu bảo hộ
Việc xác định xem một sáng chế có đạt trình độ sáng tạo hay không phải được thực hiện đối với sáng chế được yêu cầu bảo hộ. Do đó, việc đánh giá trình độ sáng tạo sẽ liên quan đến các giải pháp kỹ thuật được xác định trong yêu cầu bảo hộ . Các đặc điểm kỹ thuật mà nhờ đó sáng chế tạo ra đóng góp so với tình trạng kỹ thuật, chẳng hạn như các đặc điểm kỹ thuật mang lại hiệu quả kỹ thuật bất ngờ cho sáng chế, hoặc các đặc điểm kỹ thuật phản ánh cách thức sáng chế vượt qua định kiến kỹ thuật, phải được đưa vào trong yêu cầu bảo hộ; nếu không, chúng sẽ không được xem xét khi đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế, ngay cả khi chúng đã được trình bày trong bản mô tả. Hơn nữa, việc đánh giá trình độ sáng tạo phải hướng đến toàn bộ từng giải pháp kỹ thuật được xác định trong yêu cầu bảo hộ, nghĩa là, giải pháp kỹ thuật phải được đánh giá như một thể thống nhất, thay vì các đặc điểm kỹ thuật riêng lẻ, để xác định xem có đạt trình độ sáng tạo hay không.
|
Phần II Chương 4
6.4 Thẩm định Sáng chế được yêu cầu bảo hộ
Việc xác định xem một sáng chế có đạt trình độ sáng tạo hay không phải được thực hiện đối với sáng chế được yêu cầu bảo hộ. Do đó, việc đánh giá trình độ sáng tạo sẽ liên quan đến các giải pháp kỹ thuật được xác định trong yêu cầu bảo hộ. Việc đánh giá trình độ sáng tạo phải hướng đến toàn bộ từng giải pháp kỹ thuật được xác định trong yêu cầu bảo hộ, nghĩa là, giải pháp kỹ thuật phải được đánh giá như một thể thống nhất, thay vì các đặc điểm kỹ thuật riêng lẻ, để xác định xem có đạt trình độ sáng tạo hay không. Các đặc điểm kỹ thuật mà nhờ đó sáng chế tạo ra đóng góp so với tình trạng kỹ thuật, chẳng hạn như các đặc điểm kỹ thuật mang lại hiệu quả kỹ thuật bất ngờ cho sáng chế, hoặc các đặc điểm kỹ thuật phản ánh cách thức sáng chế vượt qua định kiến kỹ thuật, phải được đưa vào trong yêu cầu bảo hộ; nếu không, chúng sẽ không được xem xét khi đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế, ngay cả khi chúng đã được trình bày trong bản mô tả. Hơn nữa, việc đánh giá trình độ sáng tạo phải hướng đến toàn bộ từng giải pháp kỹ thuật được xác định trong yêu cầu bảo hộ, nghĩa là, giải pháp kỹ thuật phải được đánh giá như một thể thống nhất, thay vì các đặc điểm kỹ thuật riêng lẻ, để xác định xem có đạt trình độ sáng tạo hay không. Các đặc điểm không đóng góp vào việc giải quyết vấn đề kỹ thuật nói chung sẽ không ảnh hưởng đến trình độ sáng tạo của giải pháp kỹ thuật, ngay cả khi chúng được đưa vào trong yêu cầu bảo hộ.
|
| Phần II Chương 9
6.1.1 Thẩm định theo Điều 25.1(2) … |
Phần II Chương 9
6.1.1 Thẩm định theo Điều 5.1
Đối với đơn đăng ký sáng chế có chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh, nếu việc thu thập dữ liệu, quản lý nhãn, thiết lập quy tắc, hoặc ra quyết định, v.v… trong đó có chứa nội dung trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc gây hại cho lợi ích công cộng, thì sẽ không được cấp quyền sáng chế theo quy định tại Điều 5.1 của Luật Sáng chế.
|
| Phần II Chương 9
6.2 Các ví dụ thẩm định
Dưới đây là các ví dụ thẩm định đối với các đơn đăng ký sáng chế có chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh, căn cứ vào các tiêu chí thẩm định nêu trên. (1) Các đơn đăng ký sáng chế chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán, hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh mà thuộc phạm vi quy định tại Điều 25.1(2) của Luật Sáng chế thì không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế. … |
Phần II Chương 9
6.2 Các ví dụ thẩm định
Dưới đây là các ví dụ thẩm định đối với các đơn đăng ký sáng chế có chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh, căn cứ vào các tiêu chí thẩm định nêu trên. (1) Nếu một đơn đăng ký sáng chế có chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán, hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh, trái với pháp luật hoặc đạo đức xã hội, hoặc gây hại cho lợi ích công cộng, thì sẽ không được cấp quyền sáng chế. (1)(2) Các đơn đăng ký sáng chế chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán, hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh mà thuộc phạm vi quy định tại Điều 25.1(2) của Luật Sáng chế thì không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế. … |
| 6.3 Soạn thảo Bản mô tả và Yêu cầu bảo hộ
6.3.1 Soạn thảo Bản mô tả
Bản mô tả của một đơn đăng ký sáng chế có chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh phải mô tả rõ ràng và đầy đủ giải pháp mà sáng chế áp dụng để giải quyết vấn đề kỹ thuật của nó. Giải pháp này phải dựa trên các đặc điểm kỹ thuật và có thể bao gồm thêm các đặc điểm về thuật toán, quy tắc và phương pháp kinh doanh có sự hỗ trợ lẫn nhau và tương tác về mặt chức năng với các đặc điểm kỹ thuật. … |
6.3.1 Soạn thảo Bản mô tả
Bản mô tả của đơn đăng ký sáng chế có chứa các đặc điểm liên quan đến thuật toán hoặc quy tắc và phương pháp kinh doanh phải mô tả rõ ràng và đầy đủ giải pháp mà sáng chế áp dụng để giải quyết vấn đề kỹ thuật của nó. Giải pháp phải dựa trên các đặc điểm kỹ thuật và có thể bao gồm thêm các đặc điểm về thuật toán, quy tắc và phương pháp kinh doanh có sự hỗ trợ lẫn nhau và tương tác về mặt chức năng với các đặc điểm kỹ thuật. Nếu liên quan đến việc xây dựng hoặc huấn luyện mô hình trí tuệ nhân tạo, thông thường cần phải trình bày rõ ràng trong bản mô tả các mô-đun, các mối quan hệ phân cấp hoặc kết nối cần thiết cho mô hình, các bước cụ thể, các tham số thiết yếu cho việc huấn luyện, v.v…; Nếu liên quan đến việc ứng dụng mô hình AI hoặc thuật toán trong một lĩnh vực hoặc kịch bản cụ thể, thông thường cần phải trình bày rõ ràng trong bản mô tả cách thức mô hình hoặc thuật toán được kết hợp với lĩnh vực hoặc kịch bản cụ thể đó, và cách thức thiết lập dữ liệu đầu vào và đầu ra của thuật toán hoặc mô hình, để chỉ ra mối liên kết nội tại của chúng, cho phép người có chuyên môn trong lĩnh vực kỹ thuật liên quan có thể thực hiện giải pháp của sáng chế căn cứ theo nội dung của bản mô tả. … |
| Phần II Chương 9 | Phần II Chương 9
7. Các quy định liên quan đến Thẩm định
Đơn đăng ký Sáng chế bao gồm Luồng bit Trong các lĩnh vực truyền thông trực tuyến, hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống máy tính, nhiều loại dữ liệu khác nhau thường được tạo ra, lưu trữ và truyền đi dưới dạng các luồng bit (bitstreams). Mục này nhằm đưa ra các quy định cụ thể về việc thẩm định đối tượng được bảo hộ đối với các đơn đăng ký sáng chế bao gồm luồng bit, cũng như việc soạn thảo bản mô tả và yêu cầu bảo hộ phù hợp với các quy định của Luật Sáng chế và các Quy định thi hành Luật này.
7.1 Thẩm định Đối tượng được bảo hộ sáng chế
7.1.1 Thẩm định theo Điều 25.1(2)
Nếu đối tượng của một điểm yêu cầu bảo hộ chỉ liên quan đơn thuần đến bản thân luồng bit, thì điểm yêu cầu bảo hộ đó thuộc về các quy tắc và phương pháp cho các hoạt động trí óc được quy định tại Điều 25.1(2) và không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế. Ví dụ: “Một luồng bit, được đặc trưng ở chỗ bao gồm phần tử cú pháp A, phần tử cú pháp B,…” Nếu một điểm yêu cầu bảo hộ, ngoại trừ tiêu đề của đối tượng, chỉ liên quan đơn thuần đến bản thân luồng bit trong tất cả các nội dung mà nó xác định, thì điểm yêu cầu bảo hộ đó thuộc về các quy tắc và phương pháp cho các hoạt động trí óc được quy định tại Điều 25.1(2) và không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế. Ví dụ:“Một phương pháp tạo ra luồng bit, được đặc trưng ở chỗ luồng bit bao gồm phần tử cú pháp A, phần tử cú pháp B,…”
7.1.2 Thẩm định theo Điều 2.2
Trong lĩnh vực kỹ thuật mã hóa và giải mã video kỹ thuật số, một luồng bit thường được tạo ra từ dữ liệu video bằng một phương pháp mã hóa video, và dữ liệu video được tạo ra từ luồng bit bằng một phương pháp giải mã video. Nếu một phương pháp mã hóa video cụ thể để tạo ra một luồng bit đủ điều kiện là một giải pháp kỹ thuật theo quy định tại Điều 2.2, thì phương pháp lưu trữ hoặc truyền tải luồng bit và phương tiện lưu trữ đọc được bằng máy tính lưu trữ luồng bit đó, như được xác định bởi phương pháp mã hóa video cụ thể, có khả năng đạt được sự phân bổ tối ưu tài nguyên lưu trữ hoặc truyền tải, và những điều tương tự. Do đó, phương pháp lưu trữ hoặc truyền tải, cũng như phương tiện lưu trữ đọc được bằng máy tính lưu trữ luồng bit, như được xác định bởi phương pháp mã hóa video cụ thể, cấu thành một giải pháp kỹ thuật theo quy định tại Điều 2.2 và cấu thành đối tượng được bảo hộ sáng chế.
7.2 Soạn thảo Bản mô tả và Yêu cầu bảo hộ
7.2.1 Soạn thảo Bản mô tả
Bản mô tả của đơn đăng ký sáng chế có chứa luồng bit được tạo ra bởi một phương pháp mã hóa video cụ thể phải cung cấp một mô tả rõ ràng và đầy đủ về phương pháp mã hóa video cụ thể đó, để một người có chuyên môn trong lĩnh vực kỹ thuật có thể thực hiện được. Nếu đối tượng liên quan đến phương pháp lưu trữ hoặc truyền tải luồng bit và phương tiện lưu trữ đọc được bằng máy tính lưu trữ luồng bit, bản mô tả cũng phải cung cấp các mô tả liên quan để hỗ trợ cho các yêu cầu bảo hộ.
7.2.2 Soạn thảo Yêu cầu bảo hộ
Đơn đăng ký sáng chế có chứa luồng bit được tạo ra bởi một phương pháp mã hóa video cụ thể có thể được soạn thảo dưới dạng một phương pháp lưu trữ, một phương pháp truyền tải, và một điểm yêu cầu bảo hộ về phương tiện lưu trữ đọc được bằng máy tính. Các điểm yêu cầu bảo hộ như vậy thông thường phải được soạn thảo dựa trên điểm yêu cầu bảo hộ đối với phương pháp mã hóa video cụ thể để tạo ra luồng bit bằng cách viện dẫn các điểm yêu cầu bảo hộ đối với phương pháp mã hóa video cụ thể đó, hoặc bao gồm tất cả các đặc điểm của phương pháp mã hóa video cụ thể đó. |
| Phần II Chương 10
9. Thẩm định Đơn đăng ký Sáng chế trong Lĩnh vực Công nghệ sinh học
Trong mục này, thuật ngữ “vật liệu sinh học” nghĩa là bất kỳ vật liệu nào có chứa thông tin di truyền và có khả năng tự tái tạo hoặc được tái tạo trong một hệ thống sinh học, ví dụ như gen, plasmid, vi sinh vật, động vật, thực vật, v.v… Đối với định nghĩa của thuật ngữ “động vật” và “thực vật”, áp dụng các quy định tại Chương 1, Mục 4.4 của Phần này. Động vật và thực vật nói trên có thể là một đơn vị phân loại thuộc bất kỳ cấp độ nào của động vật và thực vật, chẳng hạn như giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài, v.v…
|
Phần II Chương 10
9. Thẩm định Đơn đăng ký Sáng chế trong Lĩnh vực Công nghệ sinh học
Trong mục này, thuật ngữ “vật liệu sinh học” nghĩa là bất kỳ vật liệu nào có chứa thông tin di truyền và có khả năng tự tái tạo hoặc được tái tạo trong một hệ thống sinh học, ví dụ như gen, plasmid, vi sinh vật, động vật, thực vật, v.v… Đối với định nghĩa của thuật ngữ “động vật” và “thực vật”, áp dụng các quy định tại Chương 1, Mục 4.4 của Phần này. Thuật ngữ “thực vật” đề cập đến dạng sống duy trì sự sống bằng cách tổng hợp cacbohydrat và protein từ các hợp chất vô cơ, như nước, cacbon điôxit, và muối vô cơ, thông qua quá trình quang hợp, và thường bất động. Động vật và thực vật nói trên có thể là một đơn vị phân loại thuộc bất kỳ cấp độ nào của động vật và thực vật, chẳng hạn như giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài, v.v…
|
| Phần II Chương 10
9.1.2.3 Động vật, Thực vật và Bộ phận cấu thành của chúng … Một tế bào sinh dưỡng của động vật cũng như mô và cơ quan của động vật (ngoại trừ phôi) không phù hợp với định nghĩa về “động vật” được nêu tại Chương 1, Mục 4.4 của Phần này, do đó chúng không thuộc các đối tượng bị loại trừ theo quy định tại Điều 25.1(4). Một thực vật đơn lẻ và vật liệu nhân giống của nó (như hạt giống, v.v…), duy trì sự sống bằng cách tổng hợp cacbohydrat và protein từ các chất vô cơ, như nước, cacbon điôxit và muối khoáng v.v… thông qua quá trình quang hợp, thuộc loại “giống thực vật” được nêu tại Chương 1, Mục 4.4 của Phần này, và chúng không được bảo hộ sáng chế theo quy định tại Điều 25.1(4). Nếu tế bào, mô và cơ quan của thực vật không sở hữu đặc tính nêu trên, chúng không thể được coi là “giống thực vật”, do đó, chúng không thuộc các đối tượng bị loại trừ theo quy định tại Điều 25.1(4).
|
Phần II, Chương 10
9.1.2.3 Động vật, Thực vật và Bộ phận cấu thành của chúng … Một tế bào sinh dưỡng của động vật, cũng như mô và cơ quan của động vật (ngoại trừ phôi), không phù hợp với định nghĩa về “động vật” được nêu tại Chương 1, Mục 4.4 của Phần này, do đó chúng không thuộc các đối tượng bị loại trừ theo quy định tại Điều 25.1(4). Một thực vật hoang dã được tìm thấy trong tự nhiên, chưa qua xử lý kỹ thuật, và tồn tại ở trạng thái tự nhiên, thuộc phạm vi các phát hiện khoa học theo Điều 25.1(1) và không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế. Tuy nhiên, nếu một thực vật hoang dã được tuyển chọn hoặc cải thiện nhân tạo và có thể áp dụng công nghiệp, thì bản thân thực vật đó không thuộc phạm vi các phát hiện khoa học. Một thực vật đơn lẻ và vật liệu nhân giống của nó (như hạt giống, v.v…), duy trì sự sống bằng cách tổng hợp cacbohydrat và protein từ các chất vô cơ, như nước, cacbon điôxit và muối khoáng v.v… thông qua quá trình quang hợp, thuộc loại “giống thực vật” được nêu tại Chương 1, Mục 4.4 của Phần này, và chúng không được bảo hộ sáng chế theo quy định tại Điều 25.1(4). Căn cứ định nghĩa về “giống thực vật” được nêu tại Chương 1 Mục 4.4 của Phần này, nếu một thực vật và vật liệu nhân giống của nó thu được thông qua tuyển chọn hoặc cải thiện nhân tạo từ một thực vật hoang dã tế bào, mô và cơ quanđược phát hiện không sở hữu các đặc điểm hình thái hoặc sinh học nhất quán hoặc các tính trạng di truyền tương đối ổn định trong quần thể các đặc điểm nêu trên, thì chúng không thể được coi là “giống thực vật”, do đó, chúng không thuộc các đối tượng bị loại trừ theo quy định tại Điều 25.1(4).
|
| Phần III, Chương 1
7.3 Các khoản phí đặc biệt khác
Trong quá trình xử lý ở giai đoạn quốc gia đối với một đơn quốc tế, ngoài các khoản phí được đề cập tại Mục 1, Chương 2 thuộc Phần V của Hướng dẫn này và phí ân hạn được thảo luận tại Mục 7.1 của Chương này, còn có các khoản phí đặc biệt sau đây: (1) Phí sửa chữa lỗi dịch thuật, phải được nộp đồng thời với yêu cầu sửa chữa lỗi dịch thuật; (2) Phí khôi phục tính thống nhất, phải được nộp trong thời hạn quy định tại Thông báo Nộp Phí Khôi phục Tính thống nhất do thẩm định viên ban hành (để biết chi tiết về phí khôi phục tính thống nhất, xem Mục 5.5, Chương 2 của Phần này); (3) Nếu danh sách trình tự nucleotide và/hoặc axit amin là một phần riêng biệt của bản mô tả vượt quá 400 trang, thì danh sách trình tự nucleotide và/hoặc axit amin đó sẽ được tính là 400 trang.
|
Phần III, Chương 1
7.3 Các khoản phí đặc biệt khác
Trong quá trình xử lý ở giai đoạn quốc gia đối với một đơn đăng ký quốc tế, ngoài các khoản phí được đề cập tại Mục 1, Chương 2 thuộc Phần V của Hướng dẫn này và phí ân hạn được thảo luận tại Mục 7.1 của Chương này, còn có các khoản phí đặc biệt sau đây: (1) Phí sửa chữa lỗi dịch thuật, khoản phí này phải được nộp đồng thời với yêu cầu sửa chữa lỗi dịch thuật; (2) Phí khôi phục tính thống nhất, khoản phí này phải được nộp trong thời hạn quy định tại Thông báo Nộp Phí Khôi phục Tính thống nhất do thẩm định viên ban hành (để biết chi tiết về phí khôi phục tính thống nhất, xem Mục 5.5, Chương 2 của Phần này); (3) Nếu một danh sách trình tự nucleotide và/hoặc axit amin là một phần riêng biệt của bản mô tả có số lượng vượt quá 400 trang, thì danh sách trình tự nucleotide và/hoặc axit amin đó sẽ được tính là 400 trang.
|
| Phần IV Chương 3
3.2 Tư cách của Người yêu cầu Hủy bỏ hiệu lực
Trường hợp người yêu cầu thuộc một trong các trường hợp sau đây, yêu cầu hủy bỏ hiệu lực sẽ không được thụ lý: (1) … (2) … (3) … (4) …
|
Phần IV Chương 3
3.2 Tư cách của Người yêu cầu Hủy bỏ hiệu lực
Trường hợp người yêu cầu thuộc một trong các trường hợp sau đây, yêu cầu hủy bỏ hiệu lực sẽ không được thụ lý: (1) … (2) trường hợp việc nộp yêu cầu hủy bỏ hiệu lực không phản ánh ý chí thực sự của người yêu cầu. …
|
| Phần IV, Chương 3
4.6 Sửa đổi Văn bản Sáng chế trong Thủ tục Hủy bỏ hiệu lực …
4.6.4 Nộp Văn bản Sửa đổi
Trường hợp chủ bằng sáng chế sửa đổi các yêu cầu bảo hộ, chủ bằng sáng chế phải nộp các tờ thay thế toàn văn và bảng so sánh các nội dung sửa đổi. Trường hợp nhiều văn bản sửa đổi do chủ bằng sáng chế nộp trong thủ tục thẩm định đối với cùng một yêu cầu hủy bỏ hiệu lực đều tuân thủ các quy định tại Mục 4.6.3 của Chương này, thì văn bản sửa đổi được nộp sau cùng sẽ được lấy làm chuẩn, và các văn bản sửa đổi còn lại sẽ không được dùng làm cơ sở để thẩm định.
|
|
| Phần V, Chương 2
1. Thời hạn nộp phí Phí nộp đơn bổ sung là khoản phí bắt buộc nếu số trang của bản mô tả (bao gồm hình vẽ và danh mục trình tự) vượt quá 30 trang hoặc số lượng yêu cầu bảo hộ vượt quá 10. Khoản phí này được tính dựa trên số trang của bản mô tả hoặc số lượng yêu cầu bảo hộ. |
Phần V, Chương 2
1. Thời hạn nộp phí Phí nộp đơn bổ sung là khoản phí bắt buộc nếu số trang của bản mô tả (bao gồm hình vẽ và danh mục trình tự) vượt quá 30 trang hoặc số lượng yêu cầu bảo hộ vượt quá 10. Khoản phí này được tính dựa trên số trang của bản mô tả hoặc số lượng yêu cầu bảo hộ. Đối với danh mục trình tự ở dạng máy tính có thể xử lý được nộp theo định dạng quy định, số trang của danh mục này sẽ không được tính vào tổng số trang.
|
| Phần V, Chương 9
1.2.1 Thành phần của Bằng chứng nhận Sáng chế … Các dữ liệu thư mục bao gồm: số bằng sáng chế (số sê-ri), tên sáng chế, số đơn (số đơn nộp), ngày nộp đơn, tên tác giả hoặc người thiết kế, tên hoặc tiêu đề của chủ văn bằng, địa chỉ của chủ văn bằng đầu tiên, tên tác giả hoặc người thiết kế tại thời điểm nộp đơn, tên hoặc tiêu đề người nộp đơn tại thời điểm nộp đơn, v.v. Trường hợp dữ liệu thư mục quá dài không thể chứa hết trong một trang, có thể đính kèm (các) trang bổ sung. |
Phần V, Chương 9
1.2.1 Thành phần của Bằng chứng nhận Sáng chế … Các dữ liệu thư mục bao gồm: số bằng sáng chế (số sê-ri), tên sáng chế, số đơn (số đơn nộp), ngày nộp đơn, tên tác giả hoặc người thiết kế, tên hoặc tiêu đề của chủ văn bằng, địa chỉ của chủ văn bằng đầu tiên, tên tác giả hoặc người thiết kế tại thời điểm nộp đơn, tên hoặc tiêu đề người nộp đơn tại thời điểm nộp đơn, v.v. Trường hợp dữ liệu thư mục quá dài không thể chứa hết trong một trang, có thể đính kèm (các) trang bổ sung. Đối với đơn quốc tế hoặc đơn tách, tên tác giả/người thiết kế và tên/tiêu đề người nộp đơn tính đến ngày nộp đơn ghi trên Bằng chứng nhận là tên tại thời điểm đơn quốc tế vào giai đoạn quốc gia Trung Quốc hoặc vào ngày nộp đơn tách.
|
| Phần V, Chương 9
2.2.1 Sự chậm trễ hợp lý trong quá trình cấp bằng
Các sự chậm trễ phát sinh do những trường hợp sau đây được coi là chậm trễ hợp lý trong quá trình cấp văn bằng: thủ tục tái thẩm định để sửa đổi hồ sơ đơn đăng ký sáng chế theo Quy tắc 66 của Quy chế thực hiện Luật Sáng chế, thủ tục tạm đình chỉ theo Quy tắc 103, biện pháp bảo toàn theo Quy tắc 104, và các trường hợp hợp lý khác như thủ tục tố tụng hành chính, v.v. |
Phần V, Chương 9
2.2.1 Sự chậm trễ hợp lý trong quá trình cấp bằng
Các sự chậm trễ phát sinh do những trường hợp sau đây được coi là chậm trễ hợp lý trong quá trình cấp văn bằng: thủ tục tái thẩm định để sửa đổi hồ sơ đơn đăng ký sáng chế theo Quy tắc 66 của Quy chế thực hiện Luật Sáng chế, thủ tục tạm đình chỉ theo Quy tắc 103, biện pháp bảo toàn theo Quy tắc 104, và các trường hợp hợp lý khác như thủ tục tái thẩm định để hủy bỏ quyết định từ chối trên cơ sở các lý do mới được nêu ra hoặc chứng cứ mới do người yêu cầu tái thẩm định đưa ra, cũng như thủ tục tố tụng hành chính, v.v.
|
